Phiên bản website chạy thử nghiệm

“Gót chân Achilles” của Trung Quốc ở Đông Nam Á

Các bình luận gần đây về việc Tổng thống Mỹ Barack Obama hủy kế hoạch tham dự Diễn đàn Hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương (gọi tắt là APEC) tại Bali và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (gọi tắt là EAS) tại Brunei vào phút chót đã phản ánh rõ ràng lối tư duy cổ điển về “trò chơi bên được bên mất”. Điều này đã dấy lên mối lo ngại về độ tin cậy của chính sách “xoay trục” sang Châu Á của Mỹ, và việc Trung Quốc lợi dụng sự vắng mặt của Mỹ để tăng cường hơn nữa vị thế của mình đối với các quốc gia ASEAN.

Achilles (ảnh minh họa)Achilles (ảnh minh họa)

Tuy nhiên, chính trị quốc tế hiếm khi đi theo lối tư duy nhị phân này. Trên thực tế, vì nhiều lý do, Trung Quốc khó có khả năng đạt được mục đích tận dụng sự vắng mặt của Mỹ để củng cố vị thế của mình ở Đông Nam Á. Lý do đầu tiên đó là các nhà lãnh đạo khu vực hiểu rất rõ rằng một chuyển thăm bị hủy của tổng thống đến Đông Nam Á không có nghĩa là chiến lược Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ sẽ thay đổi. Các nước lớn trong khu vực như Malaysia và Indonesia đều thấu hiểu lý do không tham dự hội nghị lần này của Tổng thống Obama. Thay vào đó, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã thay mặt Tổng thống Mỹ tham dự cả hai cuộc họp và truyền tải thông điệp chủ chốt mà các nước Đông Nam Á muốn nghe, đó là: Mỹ hi vọng Trung Quốc và các nước láng giềng giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông.

Lý do thứ hai, thông điệp này đã làm lộ “gót chân Achilles của Trung Quốc” tại Đông Nam Á, đó là trong khi các quốc gia ASEAN muốn ngồi vào đàm phán thì Bắc Kinh không sẵn sàng thỏa hiệp về những yêu sách chủ quyền lãnh thổ rộng lớn của mình tại Biển Đông. Tại thủ đô Darussalam của Brunei, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường không chỉ nhắc lại “quyền không thể chối cãi” của Trung Quốc trong phạm vi “đường lưỡi bò 9 đoạn”, mà còn lên tiếng cảnh báo các quốc gia không liên quan trực tiếp bao gồm Úc và Nhật Bản nên đứng ngoài tranh chấp Biển Đông. Do vậy, Trung Quốc đã không có mấy tiến triển trong việc thuyết phục được các nước ASEAN tin vào ý định hòa bình của mình. Nói một cách đơn giản, hành động cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm gây nên tình trạng mất lòng tin kinh niên giữa Bắc Kinh và các nước ASEAN. Nó cũng mở ra không gian cho các nước ngoài khu vực như Ấn Độ và Nhật Bản tăng cường vai trò an ninh tại Đông Nam Á.

Thứ ba, kết quả là, những hành động cứng rắn của Trung Quốc đã khiến cho các nước Đông Nam Á buộc phải “cân bằng bên trong” hoặc “cân bằng bên ngoài” nhằm đối phó lại Trung Quốc. Với sự hỗ trợ chủ yếu từ Nga, Việt Nam đang phát triển các khả năng “chống tiếp cận và phong tỏa khu vực” (A2/AD) để đối phó với sức mạnh biển ngày càng gia tăng tại khu vực của Trung Quốc. Sau hàng thập kỷ phải đối mặt với các vấn đề an ninh nội bộ, Philippines đang ra sức xây dựng một sức mạnh “phòng thủ tin cậy tối thiểu” để đối phó lại Trung Quốc. Các nước khác rõ ràng đều đang phòng ngừa rủi ro trước khả năng căng thẳng gia tăng ở Biển Đông. Ví dụ như Singapore đã mời Mỹ triển khai luân phiên đến 4 tàu chiến ven biển (Littoral Combat Ships). Nước này cũng có nhiều khả năng sẽ lựa chọn sử dụng máy bay chiến đấu liên hợp (Joint Strike Fighter - JSF), điều này sẽ giúp tăng cường quan hệ hợp tác quân sự giữa Singapore với Mỹ.

Thứ tư, những lập luận cho rằng sự vắng mặt của Tổng thống Obama là bằng chứng cho sự thiếu cam kết trong việc thực hiện chính sách xoay trục sang Châu Á đều chưa thỏa đáng. Thông thường, có hai luận điểm được đưa ra.. Thứ nhất là Washington quá bận rộn với vấn đề Trung Đông và thứ hai là Mỹ không có đủ tiền để hỗ trợ Lầu Năm Góc thực hiện chiến lược xoay trục sang Châu Á – Thái Bình Dương. Lập luận đầu tiên không nhận thức được việc rằng Mỹ vẫn là một siêu cường toàn cầu với những trách nhiệm toàn cầu - chỉ vì bài phát biểu gần đây của Tổng thống Obama trước Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đề cập đến vấn đề Trung Đông nhiều hơn Châu Á – Thái Bình Dương không có nghĩa là Mỹ đột nhiên không còn quan tâm đến Châu Á.

Lập luận thứ hai cũng không thuyết phục. Bất chấp những áp lực từ ngân sách quốc phòng của Mỹ, Lầu Năm Góc vẫn đang tiếp tục chuyển những hệ thống vũ khí quan trọng vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hồi đầu tháng 10 vừa qua, quan chức Mỹ thông báo Mỹ sẽ triển khai máy bay do thám không người lái (Global Hawk UAVs) tới Nhật Bản vào đầu năm 2014. Và đến năm 2017, Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ bắt đầu đưa máy bay tàng hình (F-35Bs) tới Nhật, đánh dấu sự triển khai máy bay chiến đấu liên hợp lần đầu tiên ngoài lãnh thổ Mỹ. Mặt khác, Thủy quân lục chiến Mỹ cũng đang xây dựng một cơ sở đồn trú quân sự mới và hiện đại ở Đảo Palawan của Philippines để giám sát Biển Đông. Đường băng trên đảo sẽ được nâng cấp để phù hợp với chiến lược không vận của Mỹ (và có thể là cả máy bay chiến đấu). Nói cách khác, Philippines là bước mới nhất trong chiến lược của Mỹ nhằm tăng cường sự hiện diện luân phiên của Thủy quân lục chiến Mỹ tại Châu Á – Thái Bình Dương, làm cản trở đáng kể các kế hoạch quân sự của Trung Quốc.

Cuối cùng, các nước đồng minh của Mỹ sẵn sàng gánh vác nhiều hơn để hỗ trợ cho chiến lược xoay trục của Mỹ. Trong đó, Úc là một ví dụ điển hình. Thủ tướng Abbott vừa công bố quyết định của chính phủ chia sẻ chi phí tài chính nhằm tăng cường sự hiện diện của Thủy quân lục chiến Mỹ ở miền Bắc nước Úc. Đồng thời, việc ông tỏ thái độ ủng hộ Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (một đồng minh chiến lược Châu Á khác của Mỹ) tại các hội nghị thượng đỉnh, bao gồm cả việc thừa nhận rằng Tokyo cần đóng một vai trò chủ động hơn trong an ninh khu vực, đã khiến ông bị nhiều ý kiến chỉ trích ở Bắc Kinh .

Tất nhiên, điều này không có nghĩa là Úc và các nước đồng minh, đối tác của Mỹ ở Đông Nam Á giờ sẽ chuyển hướng chống lại Trung Quốc. Nhưng các nước này đều có lợi ích then chốt trong việc duy trì sự hiện diện của Mỹ tại khu vực và nhận thức sâu sắc về thời điểm cần đóng vai trò của mình. Tóm lại, Trung Quốc khó để có thể làm suy yếu vị trí của Mỹ ở Đông Nam Á./.

Benjamin Schreer - Viện Chính sách Chiến lược Úc (ASPI)

Sưu tầm: Lê Phú Nguyện

Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông